Các điểm khoáng sản ở Nguyên Bình

Một trong những nét đặc sắc của CVĐC Cao Bằng là bên cạnh những giá trị di sản địa mạo-kiến tạo karst và  hang động rất phong phú và điển hình thì khu vực này còn có tính đa dạng rất cao về thành phần và kiểu loại đá,  khoáng vật, khoáng sản, nhiều kiểu loại không có mặt ở CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn. Dưới đây giới thiệu  một số biểu hiện di sản đá, khoáng vật, khoáng sản đặc sắc nhất, có ý nghĩa khoa học, giáo dục và có thể đưa  vào bảo tồn, khai thác phục vụ du lịch.

Mỏ vonfram Bản Ổ

Vị trí: Xã Thành Công, huyện Nguyên Bình. Tọa độ X=589059; Y=2497741; Z=999m asl

Đặc điểm: Điểm khoáng sản Bản Ổ khai thác quặng Wolfram trong mạch thạch anh xuyên cắt trong đá granit  phức hệ Phia Oắc do người Pháp bắt đầu từ năm 1908. Đống đá magma thải ra từ mỏ cao tới hơn 10m nay bị  rừng cây bụi che phủ. Địa hình bóc mòn phát triển trên núi đá magma cao đến 1200m trong khi địa hình bóc  mòn phát triển trên đá lục nguyên xen các thể đá vôi tạo dạng địa hình karst tự phủ hay các mỏm cô độc, trên  phủ thảm thực vật cây bụi. Thung lũng phát triển theo phương đứt gãy TB-ĐN.

Giá trị, ý nghĩa: Wolframite là khoáng sản quý tồn tại trong các mạch thạch anh nhiệt dịch hậu magma xuyên cắt  trong đá gốc granit. Phương thức khai thác khoáng sản bằng cách đào vào các sườn vách đứt gãy tạo thành các  hầm lò đã có từ lâu đời, rất phát triển hồi đầu thế kỷ 20 vẫn còn được lưu giữ đến nay. Gần nơi khai thác quặng  còn có hệ thống nhà biệt thự, nhà để mẫu do người Pháp xây dựng để theo dõi và quản lý nhân công khai thác  mỏ. Miếu Vọng Cô Tiên được xây dựng từ năm 1939 gần khu mỏ để cầu xin cho khỏi bệnh tật. Quá trình bóc  mòn trên đá granit bị đứt gãy cắt xẻ tạo nên các dải núi cao đan xen với các thung lũng đứt gãy phương TB-ĐN.

Mỏ vonfram Lũng Mười, huyện Nguyên Bình
Vị trí: Xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình. Tọa độ X=589162; Y=2500481; Z=1604m asl.
Đặc điểm: Điểm khoáng sản Lũng Mười cũng được người Pháp khai thác quặng vonfram trong mạch thạch anh xuyên cắt trong đá granit porphir phức hệ Phia Oắc từ năm 1910. Cửa lò đào vào trong đá granit được xây cũng bằng đá granit cao đến hơn 10m, rộng hơn 10m. Các mạch thạch anh chứa quặng xuyên cắt trong đá granit theo phương TB-ĐN và ĐB-TN, trong đó quặng vofram màu xám đen xâm tán hoặc thành ổ. Địa hình vòm bóc mòn trên núi đá magma cao đến 2000m và địa hình bóc mòn trên đá lục nguyên dạng dải, trên phủ rừng thứ sinh và nguyên sinh. Các thung lũng phát triển theo phương đứt gãy TB-ĐN. Một số hang phát triển trong đá granit theo các đới dập vỡ, khe nứt, đứt gãy phương ĐB-TN sâu đến >8m, cao >4m, rộng >1m.

Mỏ Fluorite Bình Đường, huyện Nguyên Bình

Vị trí: Xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình. Toạ độ X=586020; Y=2502874; Z=1.037m asl.

Đặc điểm: Mỏ fluorit Bình Đường nằm trên sườn thung lũng hình tam giác, ở về phía Nam đỉnh Pia Oắc, cách  mỏ Tĩnh Túc khoảng 8km về phía tây nam. Khu vực moong khai thác fluorit là nơi tiếp xúc giữa đá granit phức hệ Pia Oắc (Gpo) và đá vôi hệ tầng Mia Lé (D ml). Thành tạo chính phức hệ Pia Oắc lộ ra là granit hai mica hạt vừa dạng porphyr bị greisen hóa yếu. Đá vôi bị hoa hóa thành calcit dạng đường. Fluorit có màu sắc từ tím nhạt – tím đậm – tím đen; kích thước hạt thay đổi từ 1-2mm đến 1-1.5cm; chủ yếu dạng dăm kết, đôi chỗ tập  hợp dạng tinh đám. Đôi chỗ quan sát thấy trong dăm kết fluorit có các tảng dăm, cuội granit Pia Oắc. Còn có  các khoáng vật phosphat beryli màu xanh nõn chuối dạng keo gắn kết các tảng dăm fluorit. Hiện nay mỏ fluorit  Bình Đường đã tạm dừng khai thác. Địa hình karst dạng cụm đỉnh lũng phát triển trên đá vôi hệ tầng Ma Lé và  địa hình bóc mòn phát triển trên đá granit.

Giá trị, ý nghĩa: Fluorit là khoáng vật của pha nhiệt dịch cuối cùng trong quá trình tạo khoáng đa kim của granit  Pia Oắc. Phương thức khai thác sa khoáng ở các lũng karst (hố sụt karst) đã có từ lâu đời và đặc biệt phát triển  trong giai đoạn những năm 1900. Trước đây mỏ Bình Đường (nhượng khu Marrie) được người Pháp khai thác  thiếc sa khoáng và một ít quặng wolfram gốc. Quá trình bóc mòn trên các đá granit tạo địa hình dải núi cao  thành các vòm và có các thung lũng đứt gãy theo các phương TB-ĐN là nơi tích động thiếc sa khoáng và khai  thác fluorit nhiệt dịch.

Mỏ Fluorite Bình Đường

Mỏ thiếc Tĩnh Túc, huyện Nguyên Bình

Vị trí: Thị trấn Tĩnh Túc, huyện Nguyên Bình. Tọa độ X=586020; Y=2502874; Z=1.037m asl.

Đặc điểm: Mỏ thiếc Tĩnh Túc nằm ở thung lũng karst Tĩnh Túc có diện tích đến hơn 2km2, trong khối đá vôi  dạng khối màu xám sáng hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs) chứa hóa thạch Huệ biển. Đây là mỏ thiếc sa khoáng có  nguồn gốc từ các mạch greizen hóa trên các đỉnh vòm khối granit Pia Oắc bị bóc mòn và rửa trôi rồi tích tụ  xuống các phễu và hố sụt karst. Địa hình karst dạng cụm đỉnh lũng, hố sụt và phễu karst với đường kính hàng  km, các vách đứt gãy trắng xóa, dạng bậc trên đá vôi… Bề mặt san bằng cổ ở độ cao đến 1.200m.

Giá trị, ý nghĩa: Khoáng sản thiếc là sản phẩm của quá trình nhiệt dịch greizen hóa của granit Pia Oắc. Quá  trình bóc mòn sau đó đã tích tụ thiếc sa khoáng trong thung lũng karst. Phương thức khai thác sa khoáng ở các  lũng karst (hố sụt karst) đã có từ lâu đời và rất phổ biến trong những năm đầu của thế kỷ 20. Mỏ được người  Pháp khai thác thiếc sa khoáng và một ít quặng wolfram gốc từ năm 1906 (Nguyễn Ngọc Cơ và Lê Thị Hương,  2008). Thung lũng karst do đứt gãy tạo thành phương TB-ĐN, hố sụt karst do hiện tượng ăn mòn, rủa lũa, sập  sụt… là những nơi tích đọng thiếc sa khoáng. Bề mặt san bằng karst cổ thể hiện quá trình bình ổn kiến tạo trong  giai đoạn Tân kiến tạo. Huệ biển là hóa thạch cổ sinh trong môi trường biển nông. Đá vôi Carbon-Permi là sản  phẩm trầm tích sinh hóa trong đại dương cổ này.

 


Tin tức liên quan

Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn