Mùa xuân trẩy hội Cao Bằng

Cứ mỗi độ Tết đến, xuân về cùng với niềm hân hoan đón chào năm mới, nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng lại tưng bừng náo nức trẩy hội mùa xuân. Lễ hội của Cao Bằng chủ yếu là lễ hội truyền thống được diễn ra ở hai dân tộc đông người nhất là Tày và Nùng, thời gian tổ chức các lễ hội cũng chỉ tập trung từ tháng Giêng đến tháng Tư âm lịch hằng năm với nhiều lễ hội, đa dạng, phong phú, nổi bật nhất là các lễ hội đền, chùa, lễ hội Pháo hoa, lễ hội Lồng tồng, lễ hội Nàng Hai, lễ hội Thanh Minh.
Múa rồng tại Lễ hội Pháo Hoa thị trấn Quảng Uyên (Quảng Uyên). Ảnh:Chu Đức Hòa

Lễ hội đền, chùa tập trung nhiều nhất ở huyện Hòa An,Thành phố, gồm: Lễ hội đền Vua Lê ở xã Hoàng Tung (ngày 6 tháng Giêng âm lịch); đền Đống Lân ở xã Hưng Đạo (ngày 7 tháng Giêng âm lịch); đền Kỳ Sầm ở xã Vĩnh Quang (đêm mồng 9 và ngày 10 tháng Giêng âm lịch); chùa Đà Quận (chùa Viên Minh) thuộc xã Hưng Đạo ngày 8 tháng Giêng âm lịch). Ngoài ra, có lễ hội chùa Sùng Phúc thuộc xã Thanh Nhật (Hạ Lang), được tổ chức từ đêm 14, ngày 15 tháng Giêng âm lịch. Lễ hội Pháo hoa (Thua phảo, Tranh đầu pháo), còn gọi là lễ hội Linh Đền tổ chức vào ngày 2 tháng 2 âm lịch, tại thị trấn Quảng Uyên (Quảng Uyên).

Hội còn được tổ chức ở Đống Đa, Cách Linh (Phục Hòa), thị trấn Đông Khê (Thạch An). Lễ hội lồng tồng diễn ra chủ yếu ở các huyện: Thạch An, Hạ Lang từ mồng 2 Tết đến cuối tháng Giêng âm lịch hằng năm. Lễ hội Nàng Hai (Nàng Trăng) ở Tiên Thành (Phục Hòa) và một số nơi ở Thạch An, kéo dài từ tháng Giêng đến tháng Hai hoặc tháng Ba âm lịch mới kết thúc. Lễ hội Thanh Minh của người Nùng An ở Phúc Sen, Quốc Dân (Quảng Uyên), tổ chức vào tiết Thanh minh hằng năm. Như vậy, trong vòng 4 tháng mùa xuân, hàng loạt các lễ hội liên tiếp diễn ra trên một số địa bàn các huyện: Hòa An, Quảng Uyên, Hạ Lang, Thạch An, Phục Hòa, đến lễ hội Thanh Minh coi như kết thúc các lễ hội ở Cao Bằng.

Nhìn chung, các lễ hội đều thể hiện được hai phần khá rõ nét trong cấu trúc của nó. Phần lễ gồm các nghi thức cúng bái, tế lễ, dâng hương…, đó cũng chính là nội dung chủ yếu của lễ hội và là hạt nhân, cốt lõi của nghi thức lễ. Các lễ hội của Cao Bằng có thể phân chia theo các dạng chủ đề như sau:

Lễ hội đền chùa, khắc ghi công lao các nhân vật có công với quê hương, đất nước, những người sáng lập, tu bổ củng cố đền chùa, lịch sử từng giai đoạn của đền chùa… Điều đó được thể hiện khác nhau, mang đặc trưng riêng của từng đền chùa. Khi nói về khu chùa Viên Minh (Đà Quận), phần lễ luôn nói tới sự khai sinh hình thành và công đức người đứng ra quyên góp làm chuông, điều này đã được ghi nhận bằng bia văn chữ Hán khắc trên chuông đồng “Giúp chúa nhà Mạc/Có ông họ Lê/vàng đồng cúng tiến/công đức vô lường…” đến nay, vẫn còn lưu giữ được hai câu đối “Viên Minh thắng tích hưng tiền Lý/Đà Quận thần chung trú Hậu Lê” (tạm dịch: Chùa Viên Minh được dựng và hưng thịnh từ thời Lý/Chuông Đà Quận được đúc từ thời Hậu Lê). Trong khu chùa còn có nơi thờ tự nói lên công lao của vị Phò mã Đô úy Dương Tự Minh thời nhà Lý – người  từng đặc trách châu Quảng Uyên, có công lớn trong việc giữ gìn biên cương của Tổ quốc, là người con dân tộc Tày thông minh, trung nghĩa, hiếu lễ vẹn tròn, được nhân dân kính trọng.

Đặc biệt, phần lễ của Lễ hội đền Kỳ sầm được thể hiện sâu sắc hơn cả trong các lễ hội. Đêm mồng 9 rạng ngày 10 tháng Giêng là phần nghi thức lễ, chính quyền, đoàn thể và nhân dân đã làm lễ dâng hương, tế lễ với nội dung viết thành văn, nói lên thân thế, sự nghiệp, công đức, tài năng của vị dũng tướng thao lược Nùng Trí Cao trong sự nghiệp bảo vệ biên cương, củng cố núi sông, bờ cõi nước nhà. Trong khi đó phần nội dung hương khói lễ nghi tại chùa Sùng Phúc lại nêu lên xuất xứ hình thành chùa từ thời nhà Mạc thế kỷ XVII, ca ngợi công đức bà Tiến sỹ Nguyễn Thị Duệ đã tu tại chùa 6 năm sau khi nhà Mạc tan rã và lấy hiệu là Diệu Huyền giảng kinh Phật, tu nhân tích đức, nhân dân rất mến mộ, nên chùa còn có tên là Huyền Du (tên ghép của Nguyễn Thị Duệ). Phần lễ các đền chùa khác cũng đều có nội dung riêng và đi đến sự thành tâm chung là cầu mong các vị tiên liệt, thần linh phù hộ độ trì cho quốc thái, dân an, con cháu có cuộc sống bình yên, hạnh phúc, ăn nên, làm ra.

Lễ hội truyền thống nông nghiệp, văn minh lúa nước, chính là lễ hội lồng tồng và Nàng Hai. Phần nội dung của hai lễ hội này trong nghi lễ đều nói lên sự cầu thị, xin thần nông, trời đất, Hằng Nga ban cho mưa thuận gió hòa, giống tốt, trừ diệt được sâu bọ, mùa màng bội thu, lúa trĩu bông, ngô to bắp, đỗ mẩy hạt, nhà nhà no ấm, yên vui.

Lễ hội mừng công, là lễ hội Pháo Hoa, nội dung của nghi lễ là mừng Nùng Trí Cao đánh thắng giặc Tống xâm lược.

Lễ hội giáo lý, mang hàm ý giáo dục sống có tình có nghĩa đối với lớp trẻ là lễ hội Thanh Minh, nội dung lễ nghi bày tỏ sự thương tiếc, quý trọng đôi nam thanh, nữ tú đã thủy chung son sắt, nghĩa hiệp cùng tuẫn tiết nhảy xuống giếng nước trong, trọn kiếp bên nhau. Đồng thời, lên án hành vi của tên tham quan giàu có, xấu xa, độc ác định tước đoạt, ngăn trở tình yêu lứa đôi.

Phần thứ hai cấu thành lễ hội là phần hội. Ở Cao Bằng, phần hội được tổ chức sôi nổi, phong phú các loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao truyền thống và hiện đại. Bên cạnh các hoạt động văn hóa truyền thống: Hát sli, lượn giao duyên, tung còn, đánh đu, múa rồng, múa kỳ lân, đấu cờ, diễu võ, đẩy gậy, kéo co…, còn được bổ sung các môn thể thao: Cầu lông, bóng bàn, bóng đá và các hoạt động văn nghệ biểu diễn nghệ thuật, ca nhạc, thi sắc đẹp… Đồng thời, còn quan tâm nhiều đến văn hóa ẩm thực phục vụ du khách. Điều đó đã làm cho không khí lễ hội thêm phong phú sống động với nhiều màu sắc, âm thanh rộn ràng, quyến rũ.

Tùy từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương mà lễ hội có quy mô khác nhau. Lễ hội có tới nghìn người, vài nghìn người trở lên đến tham dự, trong đó có cả khách thập phương trong nước và nước ngoài, như: Lễ hội Kỳ Sầm, Đà Quận, Sùng Phúc, lễ hội Lồng Tồng Bản Khau, xã Việt Chu (Hạ Lang), lễ hội Pháo Hoa, Thanh Minh ở huyện Quảng Uyên… Như vậy, lễ hội đã tạo nên tính cộng đồng, sự kết cấu cộng đồng cao. Mọi người đến lễ hội dù ở vị trí nào trong xã hội đều có chung mục đích, bình đẳng với nhau, cùng tham gia và thưởng ngoạn lễ hội, đã tạo nên sự hòa đồng, đoàn kết trong giao lưu văn hóa giữa người với người, người với tự nhiên, thể hiện được sức mạnh tổng hợp của văn hóa lễ hội cộng đồng. Lễ hội còn là nơi gặp gỡ, hội tụ quảng giao của các vùng, miền, quốc gia với nhau. Vì vậy, qua lễ hội chúng ta quảng bá được văn hóa du lịch của Cao Bằng và “khoe” được văn hóa địa phương với thiên hạ.

Thông qua nội dung, hình thức hoạt động, lễ hội đã trở thành môi trường ưu việt giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc về lịch sử văn hóa, về lòng yêu nước, thương nòi, đạo lý làm người, biết ơn các bậc tiền bối, từ đó mà có hành động tự giác, đúng đắn cho mỗi người, nhất là thế hệ trẻ. Trở về cội nguồn là nhu cầu vĩnh hằng của con người, đó là cội nguồn tự nhiên, biết nâng niu quý trọng tự nhiên, nguồn gốc cộng đồng, gốc gác văn hóa, thể hiện rõ giá trị văn hóa cũng như tinh thần nhân văn trong lễ hội. Đến với lễ hội Cao Bằng ai cũng thấy rõ điều đó, vì thế dư âm của lễ hội luôn theo về từng du khách, còn đậm đà mãi với thời gian, ước hẹn ngày trở lại.

Theo Báo Cao Bằng

Tin tức liên quan

Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn