Rộn ràng làng nghề truyền thống

Năm nào cũng thế, cứ vào đầu tháng 11, 12 âm lịch là các làng nghề tại nhiều địa phương trong tỉnh lại rộn ràng chuẩn bị hàng hóa để sẵn sàng phục vụ Tết Nguyên đán. Những người thợ dường như đang chạy đua với thời gian để sản xuất được thêm nhiều sản phẩm hàng hóa chất lượng. Sự náo nhiệt của các làng nghề đã đem sắc xuân đến mọi miền quê hương Cao Bằng.
Người dân xóm Pác Rằng, xã Phúc Sen (Quảng Uyên) phát triển nghề rèn truyền thống.

TRĂM NĂM NGHỀ RÈN PHÚC SENKhi những cành đào bắt đầu chớm nụ, chúng tôi đến làng rèn xã Phúc Sen (Quảng Uyên) chứng kiến không khí sản xuất của làng nghề rèn có hàng trăm năm truyền thống của những người Nùng An nơi đây. Gần đến trung tâm xã Phúc Sen, những âm thanh “leng keng” vang lên khắp cả một vùng từ hàng trăm lò rèn khắp nơi vọng lại. Chúng tôi đến nhà ông Lương Văn Mạo, nguyên Chủ tịch UBND xã Phúc Sen giai đoạn 1987 – 2005, người có hơn 30 năm kinh nghiệm trong nghề rèn ở xóm Phia Chang dưới. Ông Mạo kể: Không chỉ những người lứa tuổi của tôi mà cả những thế hệ cha anh đi trước của tôi cũng không rõ nghề rèn ở Phúc Sen có từ bao giờ, có lẽ ít nhất cũng khoảng 200 năm rồi. Nhưng phải sau năm 1975 khi đất nước chấm dứt chiến tranh thì nghề rèn mới bắt đầu phát triển mạnh. Gia đình tôi cũng như bao gia đình khác có nhiều đời làm rèn, từ năm 13 tuổi tôi đã được ông nội và bố truyền dạy nghề rèn. Thời điểm đó chưa có nhiều loại máy móc như bây giờ, tất cả đều làm bằng tay nên một người thợ rèn khỏe mạnh mỗi ngày chỉ rèn được 2 con dao.

Hiện nay, do nguyên liệu nhiều nên các sản phẩm rèn đều được làm từ lá nhíp ô tô cũ nhập ở Thành phố và các tỉnh. Để tạo ra một sản phẩm rèn có chất lượng tốt phải trải qua nhiều công đoạn cầu kỳ, như: Nung, cắt, rèn, tôi, đập nguội, mài… Thời xưa, người dân chỉ dùng than củi để đốt lò vì than củi nhiệt độ vừa phải, giúp sản phẩm có độ dẻo, bền, sắc. Nhưng hiện nay, các gia đình làm nghề rèn đã biết trộn thêm than đá vào để đốt lò. Sản phẩm rèn Phúc Sen chủ yếu là dao, búa, liềm, cuốc, rìu… Với chất lượng tốt, bền nên các sản phẩm rèn Phúc Sen từ lâu đã nổi tiếng khắp nơi. Theo ông Mạo, khâu quan trọng nhất với nghề rèn là công đoạn tôi, phải nhìn màu của sắt khi nung, chỉ nên nung vừa phải, khi sắt chuyển màu da cam là phải đưa ra khỏi lò, nếu để sắt đỏ quá sản phẩm sẽ bị giòn, khi sử dụng dễ bị mẻ. Hiện nay, xã có gần 150 lò rèn với khoảng 200 hộ làm rèn, trên 500 thợ thủ công lành nghề. Nhiều hộ đã tập trung lại để thành lập hợp tác xã chuyên sản xuất, kinh doanh các sản phẩm rèn. Ông Nông Minh Tuấn, Chủ nhiệm Hợp tác xã Minh Tuấn cho biết: Các sản phẩm rèn của Hợp tác xã đã đưa đi tham dự hội chợ triển lãm, phiên chợ hàng Việt tại các tỉnh, thành trong cả nước, như: Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Kạn…, được khách hàng  đánh giá cao. Năm 2014 và 2015, sản phẩm của HTX đều đạt Sản phẩm Công nghiệp nông thôn tiêu biểu của tỉnh.

Ông Sạch Văn Long, Phó Chủ tịch UBND xã Phúc Sen cho biết: Nghề rèn là nghề truyền thống lâu đời ở xã và được các thế hệ gia đình nối tiếp nhau giữ gìn. Hiện nay, xã có 6/10 xóm làm nghề rèn, gồm: Pác Rằng, Phia Chang trên, Phia Chang dưới, Đâư Cọ, Lũng Vài, Tình Đông. Với giá bán trung bình từ 50.000 – 200.000 đồng/sản phẩm, mỗi năm người dân ở Phúc Sen làm ra hàng vạn sản phẩm với giá trị vài tỷ đồng. Hiện nay, sản phẩm rèn Phúc Sen được bày bán tại tất cả các địa phương trong tỉnh và nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, huyện Long Châu, Tịnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc).

LÀNG HƯƠNG PHJA THẮP

Đến Phja Thắp vào một ngày nắng đẹp, từ đầu làng chúng tôi đã thấy không khí nhộn nhịp của các gia đình đang sản xuất hương bán dịp tết. Là một xóm nhỏ có 51 hộ dân tộc Nùng ở xã vùng 3 Quốc Dân (Quảng Uyên), ngoài làm nông nghiệp, người dân nơi đây luôn giữ gìn và phát huy nghề truyền thống làm hương có từ lâu đời của tổ tiên để lại. Nguyên liệu chủ yếu để làm hương là cây mai, vỏ cây gạo, mùn cưa và đặc biệt là lá cây “bầu hắt”, một loại lá cây trên rừng dùng để làm chất keo kết dính các nguyên liệu lại với nhau. Đôi tay đang thoăn thoắt chẻ cây mai, ông Hoàng Văn Phừng, 60 tuổi, xóm Phja Thắp cho biết: Cũng như nhiều gia đình khác, nhà tôi có nhiều đời làm hương, từ khi gần 20 tuổi, tôi đã biết làm hương. Làm hương không quá khó nhưng cũng trải qua khá nhiều công đoạn phức tạp. Đầu tiên là cắt cây mai thành từng khúc dài khoảng 40 cm, chẻ nhỏ thành từng thanh nhỏ như đầu đũa, vót sạch. Nhúng que mai vào nước trộn với bột lá cây bầu hắt để tạo chất kết dính, sau đó tẩm 4 lần hỗn hợp bột để được que hương. Sau đó đem hương đi phơi. Nếu nắng đẹp thì phơi 1 ngày là khô còn nếu không nắng to thì phải phơi 2 – 3 ngày, có lúc phải phơi trong bếp để kịp có hương bán. Hương khô sẽ nhuộm chân hương màu đỏ rồi đem phơi khô tiếp, sau cùng là buộc thành từng bó, mỗi bó 20 que. Theo ông Phừng, khâu quan trọng nhất của nghề làm hương là trộn nguyên liệu đều để cho hương không vị vỡ vụn khi vận chuyển, khi đốt có mùi thơm, tàn đẹp.

Đi một vòng quanh xóm, nhà nào cũng đang tất bật làm hương. Từ già đến trẻ, có những cháu bé chỉ 8 – 10 tuổi cũng phụ giúp gia đình làm hương. Ông Hoàng Văn Lập, Trưởng xóm Phja Thắp cho biết: 100% hộ dân trong xóm đều làm hương. Từ đầu tháng Chạp âm lịch, các gia đình đã bắt đầu tập trung làm hương để dồn hàng bán tết. Ngày bình thường mỗi hộ dân chỉ làm 300 – 500 bó hương. Những ngày này, nếu trời nắng thì từ 4 giờ sáng các gia đình đã dậy làm hương, mỗi hộ làm từ 2.000 – 2.500 bó hương tùy vào số lao động của mỗi gia đình. Từ nghề làm hương, đời sống của người dân trong xóm được nâng lên. Năm 2007, xóm còn 33 hộ nghèo, đến nay chỉ còn 10 hộ nghèo, 8 hộ cận nghèo. Nhiều gia đình có thu nhập trung bình 30 – 50 triệu đồng từ nghề làm hương. Khó khăn với những người làm hương ở Phja Thắp hiện nay vẫn là hương chưa có thương hiệu nên giá thành còn khá thấp, trung bình từ 2000 – 5.000 đồng/bó. Với chất lượng tốt, hương Phja Thắp được đem đi bán tại tất cả các chợ phiên trong tỉnh. Ngày tết, bó hương Phja thắp luôn là thứ không thể thiếu của nhiều người dân ở Cao Bằng.

MIẾN DONG NGUYỄN HUỆ
Ở xã Nguyễn Huệ (Hòa An), những ngày này, đâu đâu cũng thấy những phên phơi miến dong vàng óng đẹp mắt. Các gia đình đang hối hả sản xuất miến để đủ hàng phục vụ nhu cầu của khách hàng dịp tết. Nghề làm miến dong ở Nguyễn Huệ đã có từ những năm 70 của thế kỷ trước nhưng đến khoảng năm 1990 mới bắt đầu phát triển mạnh. Hiện nay, toàn xã có khoảng hơn 100 hộ làm miến, tập trung tại 3 xóm: Án Lại, Canh Biện A, Canh Biện B. Anh Nguyễn Văn Đức, xóm Án Lại cho biết: Làm miến dong không khó nhưng khá vất vả. Năm nay, tôi đầu tư 10 triệu đồng mua máy làm miến chạy bằng điện để nâng cao năng suất, bớt công lao động. Những ngày trời nắng đẹp, gia đình tôi mỗi ngày làm hơn 40 kg miến. Miến dong của gia đình tôi không chỉ bán trong tỉnh mà còn bán ở các tỉnh, thành phố: Thái Nguyên, Hà Nội, Đà Lạt…
Xóm Canh Biện A có 100% hộ dân làm miến dong. Ông Nông Văn Thôn, Bí thư Chi bộ xóm Canh Biện A chia sẻ: Để làm miến dong trải qua rất nhiều công đoạn, như: Trồng dong, xát dong, lọc bột, quấy bột, ép miến, phơi, đóng gói. Gia đình tôi năm nay trồng hơn 3.000 m2 cây dong riềng nên cũng đủ nguyên liệu cho 2 tháng làm miến. Mỗi ngày gia đình tôi sản xuất từ 20 – 40 kg miến dong.
Nhiều hộ dân xóm Án Lại, xã Nguyễn Huệ (Hòa An) đầu tư máy làm miến chạy bằng điện.

Nghề làm miến dong đã làm đổi thay cuộc sống của nhiều người dân trong xóm, đến nay xóm chỉ còn 12 hộ nghèo. Nhiều gia đình trong xóm Canh Biện A đã mạnh dạn đầu tư máy làm miến chạy bằng điện để tăng thêm số lượng sản phẩm xuất ra thị trường. Với giá bán hiện nay từ 60.000 – 65.000 đồng/kg, miến dong Nguyễn Huệ vẫn có giá rẻ hơn dù chất lượng không hề thua kém so với các loại miến khác trong tỉnh.

LÀNG NGHỀ DỆT THỔ CẨM TRUYỀN THỐNG
Nghề dệt thổ cẩm của người Tày ở Cao Bằng đã có truyền thống từ rất lâu đời nhưng qua thời gian đã dần mai một. Xóm Luống Nọi, xã Phù Ngọc (Hà Quảng) là địa phương duy nhất còn lưu giữ nghề dệt thủ công truyền thống. Bà Hoàng Thị Bường, 80 tuổi, xóm Luống Nọi tâm sự: Những năm 80 của thế kỷ trước, nhà nào cũng có 1 – 2 khung dệt. Sản phẩm dệt được người dân đem đi bán tại nhiều chợ phiên trong tỉnh. Tôi cũng như nhiều người con gái trong xóm đến tuổi thanh niên, chuẩn bị lập gia đình đều phải học và biết dệt, con gái đến làm dâu trong xóm cũng được học nghề dệt. Trước đây, người Tày dệt các sản phẩm như: Quần áo, vỏ chăn, gối, mặt địu, túi đeo… Để sử dụng trong gia đình, làm của hồi môn cho con gái khi về nhà chồng, để trao đổi, phụ thêm cho kinh tế gia đình.
Bà Chu Thị Thược, nghệ nhân làng nghề ở xóm Luống Nọi dẫn chúng tôi ra chiếc khung cửi trước cửa nhà và mắc khung rồi dệt. Đôi tay nhanh nhẹn cầm con thoi đưa qua đưa lại thoăn thoắt chỉ một lúc đã tạo thành những hoa văn cầu kỳ và đẹp mắt. Vừa làm bà Thược vừa cho biết: Dệt thổ cẩm trải qua nhiều công đoạn, như: quay sợi, mắc khung, tạo hoa văn, dệt. Sản phẩm dệt hiện nay vẫn chủ yếu là mặt gối, vỏ chăn, mặt địu, túi xách… với giá từ vài chục nghìn đến vài trăm nghìn đồng/sản phẩm. Các họa tiết thường được người Tày đưa vào sản phẩm thổ cẩm rất đa dạng, chủ yếu là hình ảnh của những loài cây, hoa, động vật gắn bó với đời sống hằng ngày. Để giữ gìn nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc, tôi thành lập một tổ thổ cẩm trong xóm với gần 10 chị em và bao tiêu hết các sản phẩm. Mặt hàng dệt thổ cẩm hiện nay chủ yếu phục vụ du khách đến du lịch tại tỉnh, ngoài ra hằng năm tôi đều mang sản phẩm đi tham dự nhiều hội chợ, triển lãm, Festival Trà ở Thái Nguyên, Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam… được nhiều khách hàng chọn lựa, đánh giá cao.

Ông Hoàng Văn Tín, Trưởng xóm Luống Nọi cho biết: Cả xóm hiện chỉ còn khoảng 20 hộ duy trì nghề dệt truyền thống. Nhiều năm qua, cán bộ xóm luôn tuyên truyền bà con tập trung phát triển kinh tế, đồng thời giữ gìn nghề dệt thổ cẩm truyền thống của địa phương. Mong cấp ủy, chính quyền và các cơ quan chức năng ở địa phương quan tâm hỗ trợ làng nghề, mở thêm các lớp đào tạo nghề dệt thổ cẩm; tích cực tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm dệt tới du khách trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua các cuộc trưng bày, triển lãm;  nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa của nghề dệt thủ công truyền thống cho thế hệ trẻ.

Thêm một mùa xuân mới, các làng nghề truyền thống trong tỉnh sẽ đón nhiều may mắn, tài lộc, tiếp tục đóng góp để xây dựng quê hương Cao Bằng thêm khởi sắc, tươi đẹp hơn.

Phụ nữ xóm Luống Nọi, xã Phù Ngọc (Hà Quảng) gìn giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống.

Nguồn Báo Cao Bằng


Tin tức liên quan

Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn