Thăng trầm khúc hát Dá Hai

Dân tộc nào cũng có các loại hình nghệ thuật để thể hiện tình cảm, cuộc sống con người như: văn, thơ, vũ, nhạc, hội họa, điêu khắc, kịch… Người Nùng ở Cao Bằng có điệu hát Dá Hai được dùng biểu diễn trên sân khấu. Nguồn gốc của loại hình nghệ thuật hát Dá Hai được bắt nguồn từ cách biểu diễn “Mộc Thàu hí” (Mục đầu ca) trên sân khấu của người Nùng ở khu vực miền Đông Cao Bằng.
Hát Dá Hai tại Lễ hội “Co Sầu”, Thị trấn huyện Trùng Khánh. Ảnh: Thế Vĩnh

Mộc Thàu hí là cách gọi của người Nùng, còn có cách gọi theo dân dã là “Xướng Pết lảp” (ca vịt khô). Sở dĩ gọi như vậy là khi nghệ nhân biểu diễn có thêm các đầu hình nhân được đẽo bằng gỗ (con rối) mặt vẽ hình quan, tướng, hoàng hậu, trai, gái, ông già hay trẻ con… thân được đan bằng lạt như đan lồng gà nhỏ, chân tay được cắm bằng thân cây trúc, cây mai, khăn, mũ, quần áo mặc vào, có dây buộc chân, tay để khi biểu diễn nghệ nhân sẽ cầm dây điều khiển, các hình nhân được treo thành sào lủng lẳng như vịt khô.
Sân khấu biểu diễn “Mộc Thàu hí” được quây vải, hai bên cánh gà có rèm treo, nghệ nhân đứng lấp sau thả con rối xuống sân khấu, con rối được điều khiển bởi các sợi dây buộc ở tay, chân, cổ… Một nghệ nhân điều khiển được hai con rối, trường hợp trên sân khấu phải dùng nhiều con rối người ta treo nó ở sát phong hậu để tiện cho việc biểu diễn.
Từ  sân khấu đơn sơ “Mộc Thàu hí” truyền thống đến những năm 1960, hát Dá Hai có chuyển đổi cách biểu diễn, các nhân vật trên sân khấu được thay bằng người đóng các vai, các diễn viên có kịch bản, dàn dựng thành từng vở cho phù hợp với điều kiện thực tế của xã hội.
Giai đoạn này hát Dá Hai không chỉ phát triển ở nhóm tộc người Nùng ở Trùng Khánh nữa mà phát triển thịnh hành ở một số địa phương trong tỉnh và cả người Tày cũng tổ chức các đội hát Dá Hai. Trong đó có một số đội hoạt động mạnh như đội Dá Hai ở Thông Huề, Thị trấn huyện Trùng Khánh, sau đó một số huyện khác cũng có như đội ở Quảng Uyên, Hạ Lang, Nam Tuấn (Hòa An), Trà Lĩnh… Một số vở hát Dá Hai được nhiều đội dàn dựng như: Hoa Phù Dung, Hoa Mộc Lan tòng quân…
Dá Hai là cách gọi theo âm điệu của lời ca có đệm hai từ ngân nga “Dá Hai”. Ví như hát câu “Slam vằn mì xá đét/pét vằn mì xá phân”… (có nghĩa ba ngày có trận nắng/tám ngày có trận mưa) khi hát điệu Dá Hai người ta sẽ đệm vào: Dá… hai… hai… slam vằn mì xá đét… Dá hai… hà… hai… /pét vằn mì xá phân… dá… há… hai…
Khi còn biểu diễn ở giai đoạn cổ truyền “Mộc Thàu hí”, nghệ nhân vừa hát tay vừa điều khiển con rối theo nội dung của vở kịch. Thường một nghệ nhân đóng nhiều vai nên họ thay giọng lúc thì giọng trầm thể hiện người cao tuổi, lúc thanh thể hiện nhân vật nữ, lúc giọng trẻ con nhân vật nhỏ tuổi, lúc khóc thương nức nở, lúc cười vui… Biểu diễn “Mộc Thàu hí” nghệ nhân chỉ cần hát và điều khiển uyển chuyển con rối mang tính minh họa cho lời ca. Còn trong hát Dá Hai được dàn dựng trên sân khấu các diễn viên phải tập các động tác chân tay, di chuyển ra vào cho phù hợp với nội dung vở diễn.
Các làn điệu của Dá Hai gồm có nói vần (phuối rọi, phuối pác), điệu này nhân vật hay dùng ở phần tự sự, điệu Phìn Tiẻo, Cao Tiẻo, Sái Vá (mang tính chất vui vẻ). Điệu Thán Tiẻo, Khù Tiẻo, Sí Tiẻo thể hiện thương cảm, tâm tình… Trong lúc diễn, tùy theo nội dung của vở diễn mà người hát chuyển điệu hát từ điệu này sang điệu kia, hòa cùng giọng ca còn có âm nhạc gồm: chũm chọe, trống, thanh la, bộ gõ, riêng nhị thì có đôi, một chiếc kéo theo bè cao, một chiếc theo bè thanh trầm hòa nhịp cùng nâng đỡ cho lời ca thêm sinh động.
Các động tác biểu diễn trên sân khấu cũng mang tính tượng trưng. Ví như lão tương hô: “Hãy dùng binh!”. Mấy người sử dụng đạo cụ đồng thanh đáp: “Dạ!… dạ”… Hoặc phi ngựa người ta chỉ cầm cái roi quất và chạy vòng trên sân khấu, hay chỉ vài ba bước thể hiện sự mệt nhọc là đã đi một chặng đường dài… Hay nhân vật Tào Tháo bị Quan Công bắt chỉ đôi câu  “Anh hùng chân xỏ vào ống đũa/dẫu mà chắp cánh cũng khó bay”. Tóm lại, từ “Mộc Thàu hí” đến hát Dá Hai là loại hát kể chuyện có đầu có đuôi, có ca hát, có nhạc cụ phụ họa, tai được nghe âm nhạc, lời ca, mắt được nhìn nhân vật biểu diễn.
Hát Dá Hai tồn tại trong dân gian từ lâu, lúc rầm rộ, lúc im ắng. Những năm cuối thế kỷ XX hát Dá Hai mới được nhen nhóm lại. Nhưng ở giai đoạn nào thì loại hình sân khấu này cũng được người dân ưa chuộng. Một trong những bài hát vận dụng các làn điệu Dá Hai thành công đó là bài hát “Hai rủng nin nỉ” (Nhìn trăng nhớ bạn) do tác giả Vương Hùng sưu tầm, nghệ sĩ Dương Liễu biểu diễn đã đoạt Huy chương vàng trong Hội diễn nghệ thuật toàn quốc năm 1998. Bài hát  này đã sử dụng các điệu hát Dá Hai một cách linh hoạt. Vào đầu bài hát, ca sĩ dùng phương pháp tự sự, lối nói vần được sử dụng trong hát Dá Hai tóm tắt nội dung của bài hát bằng tiếng Việt: “Đêm rằm trăng tỏ/mười sáu trăng treo/gần nhau đã quyến luyến/xa nhau càng nhớ thương/nhớ trăng tháng tháng còn thấy mặt/nhớ bạn đường xa biết bao giờ”… Sau đó một số đoạn lời bài hát được chuyển sang các làn điệu Hí Tiẻo, Thán Tiẻo, Sái Vá… Trong hát Dá Hai, bài hát lúc thì tự sự lúc thì vút lên cao bay bổng, lúc trầm lắng… tạo sự uyển chuyển, sâu lắng lôi cuốn người nghe.

Theo Báo Cao Bằng

Tin tức liên quan

Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn