Tính đa dạng sinh học

Về tính đa dạng thực vật, nhìn chung thảm thực vật rừng Cao Bằng rất phong phú, đặc biệt là các loài quý hiếm  nhiệt đới như: ngũ gia bì gai, mã đầu linh, đinh, lát, nghiến, re hương, đẳng sâm, táo mèo, hà thủ ô, trai, thuỷ,  cẩm, tam thất, dẻ tùng sọc, hoàn đàn, bổ cốt toái. Nơi núi cao có một số loài ôn đới quý hiếm như du sam, thông  tre…

Khu vực núi Pia Oắc (huyện Nguyên Bình) có nhiều loài quý hiếm ở Việt Nam như: hoàng đàn, du sam, thông  hành, thông tre…, đều thuộc nhóm gỗ tốt. Ngoài ra Cao Bằng còn có những loài đặc trưng như: trúc cần câu,  trúc sào, hồi, trẩu, dẻ ăn hạt và những cây dược liệu như: tam thất, hà thủ ô đỏ, kim tiền thảo, ô đầu, chè đắng…

Cây chè đắng (Khổ đinh trà) có tên khoa học là Ilexe kudincha C.J.T seng là loài cây quý hiếm của Cao  Bằng, mọc tự nhiên trên các vùng núi đá, vừa làm chè uống, vừa có tác dụng phòng và chữa bệnh. Từng là  sản phẩm quý để tiến vua thời kỳ phong kiến, hiện nay cây chè đắng là một trong những cây trồng mũi nhọn  của tỉnh. Lá chè đắng có các thành phần sau:

Nhóm chất saponin: Tác dụng tăng lực, tăng cường miễn dịch cho cơ thể, kích thích thần kinh, hạ  huyết áp, lợi tiểu.

Chất flavonid: Tác dụng tăng độ bền mạch máu, giảm nguy cơ tai biến mạch máu.

Chất carotenoid: Điều trị các khối u lành và ác tính.

Về tính đa dạng động vật, rừng Cao Bằng là nơi sinh sống của nhiều động vật quý hiếm như: hổ, báo, gấu, khỉ,  hươu, nai, vượn đen, lợn rừng, sơn dương, chó sói, cầy hương và nhiều loài chim. Theo thống kê, hiện nay động  vật rừng Cao Bằng có 58 loài, trong đó quý hiếm có 44 loài, nhiều loài có tên trong sách đỏ Việt Nam như: vượn  Cao Vít, hổ, gấu, nai, sơn dương, hương xạ, gà lôi, trĩ đỏ, kỳ đà… Những loài bò sát thường gặp như: trăn, rắn,  hổ mang trì, hổ mang chúa có ở Thạch An, Hoà An, Nguyên Bình, Bảo Lạc; rắn cạp nong, cạp nia, rắn xanh sống  ở vùng núi đất, núi đá; ba ba gai, ba ba trơn sống ở các sông, suối; dưới nước có rái cá và các loài cá nước ngọt…

Vượn Cao Vít

Vượn đen Đông Bắc hay vượn mào đen phương  Đông (tiếng Anh “Eastern Black Crested  Gibbon”) (danh pháp khoa học: Nomascus  nasutus) là một loài vượn từng phân bố rộng  rãi ở Trung Quốc và Việt Nam. Vượn đen Đông  Bắc là loài linh trưởng hiếm nhất và bị đe dọa  nhất trên thế giới. Loài này có hai phân loài.

Vượn đen Đông Bắc đã bị tuyệt chủng trên  lục địa từ những năm 1950, và hiện chỉ còn 20  cá thể của phân loài vượn mào đen Hải Nam  (Nomascus nasutus hainanus) sống trên đảo Hải  Nam và khoảng 26 cá thể của phân loài vượn  Cao Vít (Nomascus nasutus nasutus) mới phát  hiện trở lại vào năm 2002 ở huyện Trùng Khánh,  tỉnh Cao Bằng thuộc miền Bắc Việt Nam, sau  khi được thấy lần cuối vào những năm 1960.

Vượn Cao Vít không đuôi, tay dài, con trưởng thành nặng khoảng 7-8 kg. Con đực toàn thân màu đen và  có chỏm mào trên đỉnh đầu; con cái trưởng thành lông vàng, có mảng lông đen và không có chỏm; con  non lông màu vàng. Chúng sống thành từng nhóm nhỏ trên cây, di chuyển bằng hai tay rất nhanh, thức ăn  chủ yếu là quả chín, lá cây. Mỗi sớm bình minh, chúng cất tiếng hót “cao vít”, “ka huýt”… kéo dài nên  dân địa phương thường gọi là vượn Cao Vít hay Ka Huýt.

Nhằm bảo tồn loài linh trưởng quý hiếm bậc nhất thế giới này, từ năm 2004 Tổ chức bảo tồn động thực vật  hoang dã Quốc tế (FFI), chi nhánh tại Việt Nam đã phối hợp cùng tỉnh Cao Bằng xây dựng dự án thành lập  Khu bảo tồn loài-sinh cảnh Vượn Cao Vít. Đồng thời từ năm 2011 đã hợp tác với FFI chi nhánh tại Trung  Quốc và chính quyền tỉnh Quảng Tây tổ chức các hoạt động hợp tác xuyên biên giới để phục hồi và mở  rộng môi trường sống cho loài vượn này.

Khu bảo tồn loài-sinh cảnh Vượn Cao Vít nằm trên địa bàn ba xã Phong Nậm, Ngọc Côn và Ngọc Khê của  huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng với tổng diện tích gần 7600ha, trong đó vùng lõi có 1600ha. Nhìn tổng  quan, khu vực đá vôi của vùng nghiên cứu là một phần nhỏ của vùng đá vôi rộng lớn cao tới trên 1000m  của 2 tỉnh Quảng Tây và Vân Nam, trên địa hình các khối núi đá vôi đồ sộ và rất đặc trưng của vùng Đông  Bắc. Vùng trung tâm thuộc hệ tầng Carbon-Permi (C-Pbs), thành phần thạch học chính là đá vôi, đá vôi  sét hay đá vôi silic với chiều dày tới 650-800m. Khu vực bao quanh có đá vôi thuộc phân hệ 2 hệ tầng Nà  Quản (D1-2 nq2) với thành phần silic khá cao, dày tới 300-320m. Khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa có  mùa đông lạnh, mưa hè, không có tháng khô. Sinh khí hậu chung là á nhiệt đới ẩm với nhiệt độ trung bình  năm 16-200, mùa lạnh dài trên 4 tháng, lượng mưa trung bình năm vừa phải từ 1.500-2.500mm, mùa khô  ngắn, thường dưới 2 tháng.

Theo báo cáo quan trắc gần đây, từ 37 cá thể được phát hiện năm 2004, đến nay vượn Cao Vít đã phát triển  lên 24 đàn với 129 cá thể.

Vượn Cao Vit (Nomascus nasutus) Trùng Khánh


Tin tức liên quan

Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn