Vườn quốc gia Phia Oắc-Phia Đén

Theo Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ, Khu bảo tồn thiên nhiên  Phia Oắc-Phia Đén thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng được mở rộng, nâng cấp thành vườn  quốc gia bởi cảnh quan thiên nhiên độc đáo, đa dạng giống loài động thực vật, hệ sinh thái cũng như  các giá trị di sản địa chất cùng với khí hậu điển hình mà ít nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam có được.

Vườn quốc gia Phia Oắc-Phia Đén có địa hình phức tạp, với chủ yếu là núi cao, thung lũng nhỏ hẹp,  độ dốc lớn >38o, nhiều nơi dốc đứng. Có nhiều đỉnh núi cao trên 1.000m đến gần 2.000m so với mực  nước biển, như Phia Oắc cao 1.935m, là đỉnh núi cao thứ hai ở Cao Bằng; đỉnh Niot Ti cao 1.574m;  Tam Loang cao 1.446m; Phia Đén cao 1.391m; Ki Doan cao 1.165m… Về địa chất nơi đây có sự đan  xen giữa các loại đá lục nguyên, đá vôi và đá xâm nhập granit, tạo nên các dãy núi đất xen với núi đá.  Sự đa dạng về địa hình, địa mạo, địa chất, cộng với điều kiện khí hậu đặc trưng đã tạo nên các hệ sinh  thái (HST) đặc thù của vùng núi cao Phia Oắc, đồng thời cũng là nền tảng cấu thành tính đa dạng sinh  học (ĐDSH) của khu vực này.

Theo lời kể của các cụ cao niên địa phương thì dãy núi này ngày xưa có tên là “Mậy Vác”. Mậy – tiếng  Tày nghĩa là cây, còn “Vác” là tên cây – chính là cây Vù hương có tên khoa học là Cinnamomum  parthenoxylon, một loài thực vật có giá trị kinh tế cao, bởi rễ, thân, vỏ, lá, hạt đều có chứa tinh dầu,  gỗ rất tốt không bị mọt, có mùi thơm đặc biệt nên rất được ưa chuộng. Đây là loài đặc hữu (ENdemic)  đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2007) ở mức độ bị đe dọa cực kỳ nguy cấp (CR – Critically  endengered).

Rừng nguyên sinh với hệ sinh thái rừng kín thường xanh ôn đới khu vực núi Phia Oắc (Nguyên Bình)

Ngay từ đầu thế kỷ XX, dãy núi này đã lọt  vào con mắt của người Pháp. Họ đã chọn  Phia Oắc-Phia Đén làm nơi nghỉ mát, hưởng  thụ các tài nguyên khí hậu và tài nguyên  sinh vật độc đáo. Nơi đây hiện vẫn còn các  dấu tích của các biệt thự, nhà nghỉ của các  công chức thời Pháp.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đây là một khu  rừng còn giữ được nhiều nét nguyên sinh,  bởi các HST rừng kín thường xanh mưa ẩm  á nhiệt đới núi cao, rừng kín thường xanh  mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, rừng hỗn giao  gỗ-tre nứa, cấu trúc 4 tầng với độ che phủ  lớn. Đặc biệt có một số HST đặc trưng cho  vùng núi cao như: HST rừng lùn, rừng rêu.  Trong rừng có hàng ngàn loài thực vật,  trong đó có một số loài có giá trị kinh tế  và giá trị bảo tồn cao như: Cây vù hương  hay còn gọi là re hương (Cinnamomum  parthenoxylon), lát hoa (Chukiasia  tabularis), sến mật (Madhuca pasquieri),  nghiến (Excentrodendron tonkinensis), dẻ  tùng (Amentotaxus argootaenia) cùng nhiều  cây thuốc quý, quần thể phong lan, đa dạng  cây cho quả như: trám trắng, trám đen, bứa,  dọc, dâu da, vải, nhãn rừng, sung, vả, me…  Thảm thực vật bốn mùa tươi tốt tạo điều  kiện sinh tồn cho khu hệ động vật hoang dã  phong phú, đa dạng. Bước đầu đã thống kê  gần 80 loài động vật có vú, hàng trăm loài  chim, bò sát và lưỡng cư, hàng vạn loài côn  trùng (cánh cứng, bướm, chuồn chuồn…)  cùng các loài thủy sinh trong các khe,  suối. Trong đó có một số loài thuộc diện  quý hiếm, có tên trong Sách đỏ Việt Nam  (2007), Sách đỏ Thế giới (2010) như: Hươu  xạ (Moschus berezovski caobangensis),  sơn dương (Naemorhedus sumatrensis),  cu li lớn (Nycticebus coucang), cu ly nhỏ  (Nycticebus pygmaeus), vượn đen Đông  bắc (Nomascus concolor), khỉ cộc (Macaca  arctoides), gấu ngựa (Ursus thibethanus),  cầy sao (Prionodon pardicolor), cầy  hương (Viverricula malaccensis), mèo  rừng (Prionailurus bengalensis), sóc bay  đuôi trắng (Petaurista petaurista), sóc bay sao (Petaurista elegans), gà lôi trắng (Lophura nycthemera), gà so ngực gụ (Arborophia charltoni), rắn  hổ mang (Naja naja), rắn sọc dưa (Colecognathus radiara), trăn đất (Python molurus), rùa núi vàng  (Indotestudo elegata), rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata), kỳ đà nước (Varanus solvator), sa giông Việt  Nam (Tylototriton vietnamensis), tắc kè (Gecko gecko), ếch cây sần (Theloderma corticule)… cùng các  loài bướm quý hiếm: Bướm phượng đuôi kiếm răng tù (Teinopalpus imperialis), bướm phượng đuôi kiếm  răng nhọn (Teinoplpus aureus), bọ hung năm sừng (Eupatorus graciticornis) và hàng trăm các loài thủy  sinh có giá trị kinh tế cao. Đây là nguồn tài nguyên đa dạng sinh học vô cùng quý giá, còn lại rất ít trong  tự nhiên ở Việt Nam. Không những thế rừng núi Phia Oắc-Phia Đén còn là khu rừng đầu nguồn quan trọng  của Nguyên Bình và các vùng lân cận, là bức rèm xanh góp phần giảm thiểu các hiện tượng cực đoan của  khí hậu, là tấm màng xanh lọc bớt ô nhiễm tiếng ồn, khí thải, nước thải, chất thải rắn… từ các hoạt  động khai thác khoáng sản, góp phần giảm nhẹ thiên  tai như trượt lở, xói mòn, lũ lụt…

Rừng và ĐDSH của vườn quốc gia Phia Oắc-  Phia Đén hoàn toàn có đầy đủ tiềm năng để phát  triển du lịch sinh thái, du lịch nghiên cứu khoa  học tự nhiên và xã hội, cùng với các giá trị tinh  thần và tâm linh, giá trị về thẩm mỹ, là không  gian sinh động có thể góp phần to lớn vào việc  khám phá, nâng cao kiến thức về giá trị của các  hệ tự nhiên, cũng như bản sắc văn hóa của cư dân  địa phương, nâng cao lòng yêu thiên nhiên, yêu  đất nước, quê hương, bản làng của các cộng đồng  trên mảnh đất lịch sử Cao Bằng.

 

 


Tin tức liên quan

Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn